Vi bằng hot

Hình ảnh chủ đề của Storman. Được tạo bởi Blogger.

Recent in vibang

vibang

Home Ads

hinhanh

Mẫu vi bằng

tongdat

Random Posts

vibang

Bài mới đăng

11/01/2017

Nên quy định chỉ có Thừa phát lại ký tên vào vi bằng

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h) - Hôm nay, những người làm trong nghề như chúng tôi sẽ chia sẻ với độc giả về chủ đề khá thú vị đó là việc có nên quy định rằng, trong vi bằng chỉ có duy nhất Thừa phát lại ký tên.

vi bang thuaphatlai
Văn phòng Thừa phát lại Quận Thủ Đức đang lập vi bằng hiện trạng

Hoạt động lập vi bằng là 1 hoạt động đặc thù riêng biệt của Thừa phát lại mà hiện chưa có cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào khác cùng chia sẻ thực hiện. Nếu tách biệt chức năng này ra khỏi 3 chức năng còn lại của Thừa phát lại thì Thừa phát lại là 1 người làm chứng chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản về nghiệp vụ làm chứng và phải được Nhà nước bổ nhiệm hẳn hoi mới hành nghề làm chứng.

Không phải ngẫu nhiên mà Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 quy định tính trung thực, khách quan của Thừa phát lại trong quá trình lập vi bằng. Đây là đức tính tiên quyết mà một Thừa phát lại cần phải có. Trung thực để thuật lại đúng sự thật sự việc mà mình làm chứng, không thêm, bớt. Khách quan là để thuật lại chính xác sự việc mà mình làm chứng không bị ý thức, tình cảm chi phối.

Nghị định 61/2009/NĐ-CP cũng đồng thời quy định rằng trong vi bằng có nội dung "Chữ ký của Thừa phát lại lập vi bằng và đóng dấu văn phòng Thừa phát lại, chữ ký của những người tham gia, chứng kiến (nếu có) và có thể có chữ ký của những người có hành vi bị lập vi bằng" (điểm g khoản 1 Điều 27).

Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC  ngày 28/2/2014 quy định biểu mẫu vi bằng, trong đó có mục "Người chứng kiến (nếu có)" và "Người yêu cầu lập vi bằng (nếu có)", đồng thời cuối mẫu vi bằng có dòng chữ "đã đọc lại cho mọi người nghe và nhất trí ký tên".

Dù các cơ quan ban hành 2 văn bản nêu trên đều khéo léo đưa 2 chữ "nếu có" vào trong các quy định nhưng rõ ràng ở đây chúng ta thấy sự bất cập.

Thứ nhất, vi bằng nào mà chẳng phải có "Người yêu cầu lập vi bằng". Đây là người ký hợp đồng dịch vụ với Thừa phát lại, trên cơ sở đó Thừa phát lại mới thực hiện công việc của mình. Không có người yêu cầu, Thừa phát lại không thể tự mình xác lập vi bằng. Vậy, chiếu theo quy định nêu trên, vi bằng nào cũng có người yêu cầu ký tên.

Xét dưới góc độ thực tiễn, chúng tôi không thể lập 1 vi bằng mà không có người yêu cầu lập vi bằng và 1 vi bằng sẽ không hoàn tất mà thiếu chữ ký của người này. Đối với những vi bằng phức tạp, kéo dài, sau khi chứng kiến tại hiện trường xong, Thừa phát lại phải mất một quãng thời gian soạn thảo sau đó mới in ấn chuyển cho các bên ký tên vào vi bằng. Tuy nhiên, những người này lại bận việc, không thu xếp sớm ký tên vào vi bằng thì rất dễ trễ hạn đăng ký, chưa kể đến những trường hợp đề nghị ký tên vào vi bằng mà các bên có sự mâu thuẫn gay gắt về quyền lợi và thể hiện rõ qua hành vi chống đối nhau.

cong chung vi bang
Hình minh họa tờ các bên ký tên vào vi bằng

Ngoài ra, chúng tôi đã gặp một số trường hợp nhân viên văn thư của tổ chức là người yêu cầu lập vi bằng nằng nặc đòi "giáp lai" lên vi bằng của Thừa phát lại không thì không chịu đóng dấu lên chữ ký của "Sếp".

Thứ hai, sự kiện, hành vi đang cần lập vi bằng đã có Thừa phát lại chứng kiến rồi, tại sao lại đưa vào 1 người chứng kiến khác? Nhắc lại cho rõ, Thừa phát lại là người được Nhà nước đào tạo, bổ nhiệm để thực hiện các chức năng lập vi bằng. Vi bằng là lời làm chứng của Thừa phát lại và có giá trị chứng cứ, buộc các chủ thể khi xem xét vi bằng "phải tin" lời làm chứng đó. Vậy thì cần thiết hay không khi bỏ ngỏ thêm 1 người làm chứng "bình thường" khác trong vi bằng?

Và sẽ thật khập khiễng khi cuối mỗi vi bằng có dòng chữ "đã đọc lại cho mọi người nghe và nhất trí ký tên". Như vậy, không chỉ mình Thừa phát lại đồng ý ký tên vào vi bằng là đủ, mà cần phải có những thành phần khác đồng ý, ký tên vào vi bằng !? 

Thứ ba, dù vi bằng được lập ra đều có đầy đủ các bên tham gia nhất trí ký tên nhưng khi xảy ra trường hợp vi bằng được lập trái quy định pháp luật thì chỉ mình Thừa phát lại phải chịu trách nhiệm.

Trên cơ sở những lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi cho rằng pháp luật nên quy định cứng về việc trên vi bằng chỉ có Thừa phát lại ký tên vào, hạn hữu thì có thêm chữ ký của Thư ký nghiệp vụ hỗ trợ Thừa phát lại lập vi bằng. Điều này nhằm trả lại sự độc lập, khách quan vốn có của Thừa phát lại. Hãy để Thừa phát lại được tự chịu trách nhiệm bằng chính văn bản do mình lập, không cần sự can thiệp của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khác.

14/10/2015

Tuyển 10 cử nhân Luật làm việc tại Thừa phát lại Hà Nội

- Không có nhận xét nào
Thừa phát lại đang kê biên thi hành án
Để đáp ứng khối lượng công việc ngày càng cao của Văn phòng, Văn phòng thừa phát lại Thủ Đô cần tuyển dụng nhân sự với yêu cầu như sau :
Thông tin tuyển dụng :
- Vị trí tuyển dụng : Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại (chuyên ngành luật);
- Ngành nghề : Thư ký nghiệp vụ.                      
- Hình thức làm việc : Toàn thời gian cố định tại Hà Nội.
- Mức lương : Thỏa Thuận;                                    
-Yêu cầu bằng cấp : Tốt nghiệp Đại học hoặc Cao đẳng chuyên ngành Luật.
- Giới tính: Nam , nữ ;     -Yêu cầu độ tuổi : 22-35;                - Số Lượng tuyển: 10 Người
Mô tả công việc :
- Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng, soạn thảo Hợp đồng dịch vụ, giúp việc Thừa phát lại trong quá trình tác nghiệp.
- Thực hiện các công việc: Tống đạt văn bản, soạn thảo vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án dân sự.
- Làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, được huấn luyện và đào tạo bài bản để phát triển nghề nghiệp Thừa phát lại lâu dài.
Quyền lợi được hưởng :
- Có cơ hội thăng tiến, phát triển năng lực cao, có điều kiện khẳng định bản thân.
- Lương, thưởng theo năng lực.
- Có chế độ BHXH + BHYT + BNTN và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
Hồ sơ bao gồm :
1: Sơ yếu lý lịch; Bản sao CMND, Hộ khẩu, Bằng cấp có liên quan; 2: Giấy khám sức khỏe;  3:  Ảnh 3x4 (02 ảnh);
Hạn nộp Hồ sơ : 30/11/2015.
Hình thức nộp hồ sơ: - Trực tiếp nộp hồ sơ tại Văn phòng Thừa phát lại Thủ Đô; số 17 phố Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
 -  ĐT liên hệ: 0912093388;              E-Mail: thưaphatlaithudo17@gmail.com

12/09/2015

Án nhanh nhờ Thừa phát lại

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Việc dùng biên bản tống đạt để đương sự ký nhận là một trong những nguyên nhân khiến thư ký khó thực hiện được việc tống đạt trực tiếp. Bởi lẽ, đương sự ngại ký 1 tờ giấy có 2 từ "tống đạt", từ mà người dân quen nghe trên truyền hình hay đọc báo chỉ việc cơ quan công an tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với tội phạm hình sự. Thực ra, tống đạt qua Thừa phát lại mang nghĩa thực tế là việc Thừa phát lại giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự cho đương sự theo quy định pháp luật.

Một thư ký VP Thừa phát lại Thủ Đức đang niêm yết văn bản tại nhà đương sự


Việc tống đạt được thực hiện bằng các phương thức sau:
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua bưu điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền;
2. Niêm yết công khai;
3. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Với phương thức thứ 3, việc tống đạt được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin như truyền thanh, truyền hình, báo đài... và chỉ thực hiện trong 1 số trường hợp cần thiết.
Với phương thức thứ 1 và thứ 2, trước đây Thư ký Tòa án, Chuyên viên ở Cơ quan thi hành án dân sự hay thậm chí cả Thẩm phán và Chấp hành viên tự mình đi tống đạt. Hoặc, các cơ quan này cũng có thể gửi thư qua đường bưu điện, gửi văn bản cần tống đạt đến yêu cầu Công an phường, Ủy ban nhân dân phường hoặc ban điều hành khu phố hỗ trợ tống đạt thay.
Tuy nhiên, nếu gửi qua đường bưu điện thì không đảm bảo rằng văn bản đã đến tận tay người cần gửi, thời gian gửi có thể kéo dài và khó chứng minh việc đã gửi văn bản cho đương sự khi thủ tục ký nhận qua bưu điện hoặc là không có hoặc là quá sơ sài. 
Việc tống đạt qua Ủy ban phường, Công an hay khu phố cũng không khá hơn vì dễ phát sinh rủi ro bởi có quá nhiều đầu mối. Bên cạnh đó, những cơ quan này phải làm các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình không phải lúc nào cũng có thời gian hỗ trợ Tòa án, cơ quan thi hành án giao giấy nên tình trạng trễ hạn tống đạt là chuyện thường.
Trường hợp công chức làm trong Tòa án hay cơ quan thi hành án trực tiếp đi tống đạt thì có ưu điểm là việc tống đạt khá thuận lợi vì bản thân người đi tống đạt nắm được hồ sơ vụ việc nên dễ làm việc với đương sự. Ngoài ra, việc trực tiếp tiếp xúc với đương sự cũng giúp các cơ quan này nắm được tình hình đương sự (địa chỉ cư trú, thái độ đối với vụ việc...). Tuy nhiên, nhược điểm của phương thức này các công chức này mất quá nhiều thời gian để đi tống đạt các hồ sơ của mình ở một địa bàn phân bố rộng bởi đối với họ, hồ sơ của ai phụ trách thì người đó trực tiếp đi tống đạt mà không phân định được theo địa bàn. Từ đó, họ không có nhiều thời gian để tập trung vào công việc chuyên môn ở cơ quan, điều này là nghiêm trọng đặc biệt là ở các tỉnh thành có nhiều án. Người dân chúng ta từ lâu đã không hài lòng với việc án bị "ngâm", "án tồn đọng". Ngoài các vấn đề về chuyên môn ra thì khâu tống đạt chậm cũng là một nguyên nhân quan trọng.
Hiện nay nhà nước đã cho phép thành lập các Văn phòng Thừa phát lại để thực hiện các công việc pháp lý mà trong đó có công việc tống đạt văn bản. Các Thừa phát lại và Thư ký đều được đào tạo pháp luật bài bản. Việc Thừa phát lại đi tống đạt đã khắc phục được hầu hết các nhược điểm kể trên. Khâu tống đạt được quy về 1 đầu mối, giao cho 1 cơ quan chuyên trách sẽ góp phần đẩy nhanh tiến trình giải quyết hồ sơ. Do đó, người dân sẽ quen dần với việc giấy của Tòa án và cơ quan Thi hành án được Thư ký Thừa phát lại mang đến tận nhà giao cùng với việc mình ký nhận vào Biên bản tống đạt.

Tống đạt nghĩa là gì?

- Không có nhận xét nào

(Thừa phát lại 24h)-Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự cho đương sự theo quy định pháp luật.

Một thư ký VP Thừa phát lại Thủ Đức đang tống đạt văn bản cho đương sự

Việc tống đạt được thực hiện bằng các phương thức sau:
1. Cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp, qua bưu điện hoặc người thứ ba được uỷ quyền;
2. Niêm yết công khai;
3. Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Với phương thức thứ 3, việc tống đạt được thực hiện thông qua các phương tiện truyền tin như truyền thanh, truyền hình, báo đài...
Với phương thức thứ 1 và thứ 2, trước đây Thư ký Tòa án, Chuyên viên ở Cơ quan thi hành án dân sự hay thậm chí cả Thẩm phán và Chấp hành viên tự mình đi tống đạt. Hoặc, các cơ quan này cũng có thể gửi thư qua đường bưu điện, gửi văn bản cần tống đạt đến nhờ Công an phường, Ủy ban nhân dân phường hoặc ban điều hành khu phố hỗ trợ tống đạt thay.
Hiện nay nhà nước đã thành lập các Văn phòng Thừa phát lại để thực hiện các công việc pháp lý mà trong đó có công việc tống đạt văn bản. Do đó, người dân sẽ quen dần với việc giấy của Tòa án và cơ quan Thi hành án được Thư ký Thừa phát lại mang đến tận nhà giao cùng với việc mình ký nhận vào Biên bản tống đạt.

10/09/2015

Cần đơn giản hóa thủ tục cho Thừa phát lại

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)- Theo các văn phòng thừa phát lại, để phát huy hơn nữa hiệu quả của hoạt động tống đạt văn bản và lập vi bằng thì cần khắc phục một số bất cập về chi phí tống đạt, đăng ký vi bằng…
Theo ông Phạm Quang Giang (Trưởng văn phòng Thừa phát lại quận 5, TP.HCM), thời gian tống đạt của thừa phát lại (TPL) theo quy định chỉ có năm ngày làm việc. TPL gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo thời hạn này bởi nhiều khi địa chỉ của đương sự không chính xác hoặc đương sự liên tục thay đổi chỗ ở. Một số trường hợp, tòa và cơ quan THA dân sự giao văn bản quá sát ngày triệu tập đương sự, trong khi các cán bộ tư pháp phường, xã không phải lúc nào cũng rảnh để đi cùng TPL, dẫn tới việc tống đạt bị chậm trễ.
Đơn giản hóa thủ tục tống đạt
Mặt khác, các thẩm phán tòa cấp dưới có tâm lý e ngại bị hủy án nên yêu cầu TPL phải có con dấu xác nhận của UBND phường, xã với tất cả trường hợp tống đạt. TPL phải chờ lịch hẹn của UBND phường, xã để đóng dấu, xác nhận dẫn đến việc chậm trễ ngày giao trả văn bản tống đạt. “Đây là những thủ tục còn rườm rà, tạo áp lực lớn cho các văn phòng TPL, cần phải quy định lại theo hướng đơn giản hơn” - ông Giang nói.
việc thanh toán chi phí tống đạt của các cơ quan THA dân sự cho TPL cũng còn chậm. Quy định không tính tiền tống đạt cho văn bản thứ hai trở đi ở cùng một địa chỉ cũng gây khó khăn cho TPL vì thực tế không phải làm một lần là xong.
Ông Nguyễn Đức Thịnh (Trưởng văn phòng TPL quận Gò Vấp, TP.HCM) cũng cho biết từ thực tiễn hoạt động của văn phòng ông cho thấy việc xác nhận, đóng dấu của UBND phường, xã thường kéo dài, mất thời gian, trong khi phí tống đạt còn thấp. Ngoài ra, thủ tục tống đạt các văn bản của tòa chưa có sự thống nhất nên trong cùng một tòa, mỗi thẩm phán lại có yêu cầu khác nhau.
Nhân viên Văn phòng TPL quận Thủ Đức (TP.HCM) đang tống đạt văn bản đến tận tay đương sự. Ảnh: T.TÙNG
“Cần có hướng dẫn về trường hợp bắt buộc phải có con dấu của UBND phường, xã theo hướng đơn giản nhất. Theo tôi, chỉ nên sử dụng con dấu của UBND phường, xã trong việc niêm yết văn bản, còn các loại hình tống đạt khác thì chỉ cần sử dụng con dấu của văn phòng TPL là đủ. ngành tòa án TP và Sở Tư pháp TP cũng cần phối hợp thống nhất biểu mẫu, quy trình, nội dung ghi trong biên bản tống đạt” - ông Thịnh đề xuất.
Bà Đỗ Thị Thúy Hảo (Trưởng văn phòng TPL quận Tân Bình, TP.HCM) thì đề nghị rút gọn quy trình tống đạt theo hướng chỉ cần TPL ký tên, đóng dấu vào các biên bản tống đạt là đủ. “TPL tự chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của văn bản tống đạt. Nếu tống đạt không đúng thì không được tính phí mà phải làm lại, nếu gây thiệt hại cho các bên đương sự thì phải bồi thường” - bà Hảo nói.
Mở rộng thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng
Về lập vi bằng, ông Lê Mạnh Hùng (Trưởng văn phòng TPL quận Bình Thạnh, TP.HCM) cho biết: Các hạn chế trong hoạt động này chính là thẩm quyền và phạm vi lập vi bằng của TPL.
Ông Hùng đề xuất không nên hạn chế TPL lập vi bằng liên quan đến hợp đồng, giao dịch như hiện nay. Bởi lẽ vi bằng không phải là hợp đồng, giao dịch mà chỉ ghi nhận một sự kiện mà các bên tiếna hành giao dịch nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quá trình lập vi bằng. Hơn nữa, việc lập vi bằng ghi nhận lời khai, lời trình bày, tuyên thệ, cuộc họp là phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế cuộc sống. Cần khuyến khích loại vi bằng này vì nó sẽ phục vụ đắc lực cho hoạt động xét xử của tòa.
Ông Hùng cũng đề xuất nên cho TPL quyền được lập vi bằng liên quan đến các hành vi, sự kiện của cán bộ, công chức đang thi hành công vụ. Có thể hạn chế việc lập vi bằng liên quan đến bí mật quân sự, hoạt động của lực lượng vũ trang, hoạt động xét xử của tòa, hoạt động THA của cơ quan THA dân sự, hoạt động cưỡng chế của Nhà nước. Còn những sự việc khác thì không nên cấm nếu người yêu cầu lập vi bằng chứng minh được quyền, nghĩa vụ của họ bị ảnh hưởng bởi hành vi của cán bộ, công chức.
Một vấn đề khác, theo ông Hùng, không thể buộc TPL phải biết, phải đảm bảo mục đích sử dụng của vi bằng vì người yêu cầu lập vi bằng có quyền tùy nghi sử dụng vi bằng trong khuôn khổ pháp luật. Vi bằng được lập chỉ với một mục đích duy nhất là tạo lập chứng cứ và TPL cũng không phải là cơ quan có thẩm quyền xác định sự kiện, hành vi nào là sự kiện, hành vi trái pháp luật. Ngoài ra, không nên giới hạn phạm vi lập vi bằng trong phạm vi tỉnh, thành nơi văn phòng TPL có trụ sở như hiện nay.
theo hai ông Phạm Quang Giang và Nguyễn Đức Thịnh, nên bỏ việc đăng ký vi bằng vì phát sinh nhiều bất cập: Cơ quan có trách nhiệm đăng ký (công nhận hoặc từ chối vi bằng) phải thêm việc, trong khi đương sự thì cần vi bằng ngay. Nếu vi bằng ghi nhận đúng nhưng bị từ chối đăng ký hoặc ngược lại vi bằng ghi nhận sai nhưng lại cho đăng ký thì cơ quan, cán bộ đăng ký có chịu trách nhiệm gì không? Trong khi về bản chất, vi bằng không phải là hợp đồng (không mang tính nội dung), không chứng nhận nội dung hợp đồng, giao dịch hay ghi nhận chữ ký như thủ tục công chứng mà chỉ là một văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi. Vì thế, tốt nhất nên để cho TPL chịu trách nhiệm về tất cả vi bằng do mình lập ra.


TP.HCM đề xuất tháo gỡ khó khăn
Về hoạt động tống đạt văn bản của TPL, UBND TP.HCM kiến nghị Bộ Tư pháp, TAND Tối cao chỉ đạo các cơ quan THA dân sự và tòa án cấp dưới đẩy mạnh chuyển giao văn bản cần tống đạt; hướng dẫn rõ quy trình, thủ tục cũng như thanh quyết toán chi phí tống đạt. Kiến nghị các bộ, ngành có liên quan cần sớm xem xét điều chỉnh tăng chi phí tống đạt.
Về hoạt động lập vi bằng, UBND TP.HCM kiến nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền quy định cụ thể về phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng, thủ tục đăng ký vi bằng, trách nhiệm của cơ quan đăng ký vi bằng. Nên theo hướng việc đăng ký chỉ nhằm mục đích xác nhận việc có lập vi bằng, còn nội dung của vi bằng và những vấn đề liên quan khác sẽ do TPL chịu trách nhiệm.
Phí tống đạt: Tối đa 130.000 đồng/việc
Theo Thông tư liên tịch 09-2014 giữa Bộ Tư pháp - TAND Tối cao - VKSND Tối cao - Bộ Tài chính thì phí tống đạt các văn bản của tòa án, cơ quan THA dân sự hiện nay như sau:
Trong phạm vi cấp huyện nơi đặt văn phòng TPL: Không quá 65.000 đồng/việc (trước đây không quá 50.000 đồng/việc - theo Thông tư 12-2010). Ngoài phạm vi cấp huyện nơi đặt văn phòng TPL nhưng trong địa bàn cấp tỉnh: Không quá 130.000 đồng/việc (trước đây không quá 100.000 đồng/việc).
Riêng trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh thì tòa án, cơ quan THA dân sự thỏa thuận với văn phòng TPL về chi phí tống đạt (chi phí phát sinh thực tế, tiền công theo ngày làm việc của người thực hiện việc tống đạt)..
Nguồn: http://phapluattp.vn/ (Tiêu đề do người đăng đặt lại)

09/09/2015

9 câu chuyện nên đọc khi đi tống đạt

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Đi tống đạt là 1 công việc rất vất vả của Thư ký Thừa phát lại. Gặp gỡ nhiều người, tiếp xúc với nhiều cơ quan, suốt ngày phải đi ngoài đường... Để hoàn thành tốt công việc, bên cạnh việc am hiểu quy định pháp luật về tống đạt, sắp xếp công việc khoa học thì thư ký cần có khả năng giao tiếp cởi mở, vui vẻ với mọi người. Trong phạm vi bài viết này, tôi xin chia sẻ 1 số câu chuyện tiếp xúc với đương sự có thật mà tôi được các đồng nghiệp chia sẻ hoặc kinh nghiệm có thực của bản thân để các anh chị đồng nghiệp tham khảo nhằm giúp việc tống đạt thật thuận lợi, được nhiều biên bản tống đạt trực tiếp.
thừa phát lại
Thư ký đang tống đạt văn bản cho đương sự
1. Gõ cửa nhà đương sự lần đầu:
Thư ký: "Dạ, em chào anh, chào chị. Con chào cô/chào chú... Dạ cho em/con hỏi ở nhà mình có ai tên là Nguyễn Văn A không ạ!"
Chủ nhà: "a,b,c...xyz" (xác nhận đúng)
Thư ký: "Dạ nhà mình có thư của Tòa án/ Thi hành án gửi tới ạ!"
>> Ta nói, lời chào cao hơn mâm cỗ, phải lịch sự, lễ phép để tạo thiện cảm ngay từ đầu. Có thư ký từng tới nhà người ta chưa kịp chào hỏi đã hỏi xăng xẳng hỏi "Đây là nhà anh Nguyễn Văn A phải không???!!!"
>> Dùng từ "nhà mình có thư" thay vì nói thẳng là đi tống đạt Giấy triệu tập, Quyết định cưỡng chế cho anh Nguyễn Văn A để tạo cảm giác nhẹ nhàng, bình tâm cho người tiếp nhận văn bản bởi chỉ đơn thuần là "nhận thư". Hai nữa, từ "nhà mình" cho người tiếp nhận văn bản cảm giác đó là giấy gửi cho gia đình nên trong trường hợp người nhà mình có tên trên giấy mà vắng mặt thì mình đại diện cho gia đình có trách nhiệm nhận thay.

2. Nhận giấy để biết thông tin rồi liên hệ cơ quan này để giải quyết

Đương sự: Sao giấy lại ghi thế này thế kia...abc....xyz...?? (Thái độ bực bội, khó chịu ra mặt)
Thư ký: " Vâng, đúng là giấy ghi như vậy thì bất lợi cho gia đình mình thật. Nhưng mà con chỉ là người đi gửi giấy thôi, cô chú xem giấy, biết thông tin rồi liên hệ cơ quan ra văn bản với người ký giấy để được giải thích thêm. Nếu có khiếu nại, thắc mắc gì thì cô, chú cầm giấy lên thẳng đó khiếu nại..."
Đương sự (dịu giọng): Vậy theo con thì giấy như thế này là đúng hay sai?
Thư ký: Con không phải là người trực tiếp giải quyết vụ việc và cũng không phải là người làm việc trong Tòa án/Cơ quan thi hành án nhưng với tư cách là người được đào tạo về Luật pháp cũng như đang công tác trong ngành thì con có thể nói qua quy định của pháp luật về vấn đề này cho cô chú như sau:....
>>Mỗi lần đương sự có thắc mắc gì về giấy tờ được tống đạt, như một bản năng, tôi đều liền tuôn một tràng như thế. Tôi không cố gắng đôi co hay giải thích sâu về văn bản dù mình có biết, hay hiểu rõ về văn bản đó. Nếu có giải thích, tôi cố gắng giải thích theo hướng quy định pháp luật chung. Đương sự sau khi được tư vấn, giải thích miễn phí cũng nắm rõ hơn về vụ việc và cũng vì cái sự nhiệt tình dù không phải là trách nhiệm của người đi gửi giấy nên tiếc gì mà không ký lấy một chữ cho người ta.

3. Đương sự luôn luôn đúng
- Thuê nhà tôi mà đến tháng không trả tiền nhà thì tôi đuổi ra khỏi nhà chứ kiện tụng gì? 
- Vâng, người ta thuê nhà cô mà không trả tiền thì cô lấy lại nhà là đúng. Khả năng người ta bị Tòa bác đơn là rất cao. Kiện tụng gì vụ này.
- Tôi có sai đâu mà triệu tập tôi, làm gì như hình sự vậy?
- Dạ, đúng cô làm như vậy là không trái quy định pháp luật. Còn giấy mời có tên là giấy triệu tập thì cũng đúng là nghe năng nề thật nhưng vì Luật do Quốc hội ban hành đã nói là giấy tờ do Tòa án gửi đương sự là Giấy triệu tập, là mẫu ở TƯ ban hành rồi nên Tòa án phải thực hiện theo mẫu đó chứ không có làm khác được. Ngay cả ông Chủ tịch Thành phố mà bị người khác kiện thì cũng bị gửi giấy triệu tập. Nghĩa đời thường của từ tống đạt là việc giao nhận giây tờ thôi ạ.
...
>> Đây là tôn chỉ của tôi trong suốt quá trình tống đạt. Nghe như câu "Khách hàng luôn luôn đúng" của người làm kinh doanh. Tôi luôn cố gắng làm hài lòng người được tống đạt bằng cách đồng ý, đồng tình một cách tích cực với mọi quan điểm do đương sự đưa ra. Điều này làm cho đương sự cảm thấy tôi như là 1 người bạn, người đồng quan điểm và đồng chí hướng với họ. Vậy thì việc nhận giấy tờ và ký nhận giữa những người bạn cho nhau có gì mà phải khó khăn?
thừa phát lại
Thư ký đang niêm yết văn bản ở nhà đương sự
4. Nhận giấy rồi còn đi hay không là quyền của mình
- Họ ly hôn thì mời họ thôi chứ, tôi chỉ là người ở trọ thôi thì mời tôi đi làm gì?
- Dạ, đúng là anh là người ở trọ. Họ ly hôn thì Tòa án phải mời họ rồi. Tuy nhiên, Tòa án mời anh lên với tư cách là người có liên quan thôi. Còn liên quan như thế nào thì thế này anh, hai vợ chồng chủ nhà đang ly hôn và đang phân chia khối tài sản chung mà trong đó có dãy nhà trọ anh đang ở. Giả sử dãy nhà trọ đó được chia cho ông chồng nhưng trước giờ bà vợ đều thu tiền trọ và sau này vẫn thu thì anh có trả không? Giả sử anh không biết nội dung bản án thì anh biết trả tiền trọ cho ai? Rồi người ta bán dãy nhà trọ này cho người khác thì mình có được quyền lưu cư hay không? Anh có liên quan là liên quan như vầy.
- Tôi không đi đâu! Ký nhận giấy rồi là phải đi mệt lắm.
- Vâng, anh và những người ở trọ ở đây bận đi làm thì thời gian đâu mà lên tòa. Với lại. lên tòa hay không là quyền có anh mà. Tuy nhiên, em cũng lưu ý anh rằng, dù lên hay không là quyền của mình nhưng lỡ án tuyên mà có gì bất lợi cho anh thì anh khỏi thắc mắc, khiếu nại nhé.
>> Tâm lý ký nhận rồi phải đi khiến cho người cần tống đạt ngại nhận văn bản. Thư ký lựa lời giải thích với đương sự về việc ký nhận giấy như là mình nhận thư thì có ký nhận thư. Còn việc đi hay không là "quyền" của họ. Bên cạnh đó cần khuyến nghị họ rằng việc họ không lên Tòa hay Cơ quan Thi hành án mà các cơ quan này đưa ra các quyết định nào bất lợi cho họ thì họ khỏi thắc mắc, khiếu nại. Do đó, họ cần cân nhắc việc có đến cơ quan này sau khi nhận giấy hay không.

5. Ký nhận để cơ quan biết có đi làm việc, có đến gửi giấy cho gia đình rồi
Giấy đến thì tôi nhận rồi ngày đó tôi lên, cần gì mà phải ký nhận vào biên bản tống đạt này, rách việc.
- Vâng, bên Tòa biết rằng anh chắc chắn sẽ lên Tòa để làm rõ việc này. Với lại thủ tục nhà nước giao giấy rồi ký nhận cũng khá nhiêu khê cho đương sự. Nhưng sáng nay cơ quan giao cho em đến gửi văn bản cho gia đình mình nhưng mà giờ không có chữ ký nhận thì cơ quan không biết sáng nay em có đi làm việc hay trốn đi ra ngoài làm việc khác. Gia đình mình ký nhận coi như ký nhận thư hàng ngày vậy thôi, để có gì cơ quan em biết em có đi làm việc, có đến gửi giấy cho gia đình rồi.
>> Thư ký hoàn toàn nắm rõ về thủ tục, việc giao văn bản phải có ký nhận là quan trọng như thế nào trong thủ tục tố tụng, thủ tục thi hành án (xét xử vắng mặt, cưỡng chế thi hành án vì không tự nguyện thi hành...). Trường hợp đương sự không ký nhận thì thủ tục tống đạt cũng có thể thực hiện theo hướng khác nhưng mà đòi hỏi nhiều thời gian, công sức. Trường hợp trên, thư ký đã cố gắng chuyển hướng câu chuyện sang một ngã rẽ khác nhẹ nhàng hơn. Tâm lý ký nhận thư và đặc biệt để giúp người gửi chứng minh với cơ quan của họ biết họ đi làm việc, chứ không phải đi làm việc gì khác khiến người nhận giấy dễ bằng lòng ký nhận.
thừa phát lại
Thư ký đang niêm yết văn bản ở bảng niêm yết UBND phường
6. Có ý kiến gì thì ghi vào
- Tôi thấy cơ quan thi hành án làm ăn tào lao, ngân hàng định giá nhà tôi 1,8 tỷ mới cho tôi vay 1,2 tỷ giờ tôi không trả tiền được thì cấn nhà qua là tôi dư sức trả nợ chứ sao giờ đem bán đấu giá nhà tôi với giá có 900tr vậy? Tôi không ký đâu!?
- Vâng, giá nhà anh đem bán đấu giá như vầy là quá thấp so với định giá ban đầu. Nhà anh, em thấy dù thị trường bất động sản có xuống thế nào đi nữa thì thấp nhất cũng là 1,4 tỷ. Anh thắc mắc, không đồng tình là đúng. Anh cứ ghi thắc mắc, khiếu nại và ý kiến của anh vào đây (Biên bản tống đạt) em mang về để gửi lên Chấp hành viên phụ trách hồ sơ.
- Vậy đưa đây tôi ghi.....
Thư ký hỗ trợ thêm đương sự câu từ pháp lý để ghi vào giấy. Ghi xong...
- Rồi, ý kiến của anh em sẽ trình lên Chấp hành viên. Anh ghi tên mình và ký bên dưới nha!
- Ghi vầy được rồi còn ký gì nữa em!
- Anh không ghi tên và ký vào thì làm sao người ta biết đây là ý kiến của anh!...
>> Thư ký dù không biết việc xét xử Tòa án, việc thi hành án của Chấp hành viên có đúng quy định pháp luật hay không nhưng lúc nào cũng nên đồng tình, chia sẻ với đương sự về những thắc mắc, phản đối của họ. Thêm nữa có người giúp mình trình ý kiến phản đối, thắc mắc lên cơ quan giải quyết vụ việc đồng thời tận tình hướng dẫn mình cách viết, câu từ nữa thì tốt quá và cần phải làm.

7. Nhận mà không ký cũng là mừng
- Tôi không nhận giấy của Tòa đâu, Tòa án làm ăn sai luật, tôi nghi ngờ Tòa án nhận tiền của ổng X để xử ép tôi. Tôi nhất định không ký, không nhận, anh, mang giấy về đi.
- Vâng, em thấy vụ này cần phải làm rõ. Nếu Tòa xử sai thì mình kháng cáo lên Tòa thành phố, chỗ Nam Kỳ Khởi Nghĩa.
- Tôi sẽ khiếu nại.
- Vâng anh cứ làm đơn đi. Anh không đồng ý ký thì anh không cần phải ký nữa. Anh xem nội dung trên giấy như thế nào rồi làm đơn nè (Đưa giấy)....
>> Ở 1 số Tòa án, tùy quan điểm của các Tòa về thủ tục tống đạt việc đương sự nhận nhưng từ chối ký nhận thì chỉ cần lập biên bản tống đạt ghi nhận sự việc và có nêu rõ nội dung thư ký đã giao, đương sự đã nhận văn bản là coi như tống đạt thành mà không cần phải thực hiện thủ tục niêm yết. Vậy nên, thuyết phục được đương sự nhận giấy của Tòa án trong trường hợp này giúp thư ký tránh được thủ tục niêm yết mất thời gian công sức và đôi khi là cả sự phản kháng của đương sự trong lúc niêm yết.

8. Biết nội dung văn bản và vụ việc đang tống đạt
- Chào cô, con là thư ký Thừa phát lại đến gửi thư của Tòa án cho gia đình mình về việc Tòa đình chỉ giải quyết vụ kiện của bà Phương ở cách đây mấy căn đối với gia đình mình!
- Ủa sao kỳ vậy! Xây nhà làm nứt nhà tôi rồi đi kiện. Chúng tôi chờ cả nửa năm nay rồi sao Tòa không xử để gia đình tôi được bồi thường mà sao đình chỉ vầy? Gia đình tôi không đồng ý đâu!
- Vâng, bà Phương này đúng là! Xây nhà sát nách nhà người ta rồi sao không bồi thường còn đi kiện. Tòa đình chỉ khiến gia đình mình cũng mệt mỏi. Nhưng mà cô à, Tòa đình chỉ trong trường họp này là đúng quy định pháp luật. Bởi bà Phương là nguyên đơn đã rút đơn mà bên mình trong quá trình giải quyết ở Tòa án không có yêu cầu phản tố nên Tòa đình chỉ. Trường hợp này, gia đình mình muốn đòi quyền lợi thì phải làm đơn thưa lên Tòa kiện đòi bên kia bồi thường và ở đây mình trở thành nguyên đơn.
- Mấy tháng nay, nhà bên kia xây nhà làm nứt nhà cô mà không chịu khắc phục thiệt hại, bồi thường giờ cứ tiếp tục xây như vầy cô sợ lại nứt tiếp nhà sập. Cô phải làm sao giờ con?
- Bây giờ trước mắt, cô cần làm đơn gửi trên Phường lẫn thanh tra xây dựng Quận. Trong đơn cần nêu rõ việc nhà mình bị nứt do công trình xây dựng của bà Phương gây ra và có nguy cơ đổ sập bất cứ khi nào, ảnh hưởng đến tính mạng, tài sản những người trong gia đình. Bà Phương chưa khắc phục thiêt hại mà vẫn tiếp tục xây dựng nên đề nghị các cơ quan này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ xuống kiểm tra xử lý. Kèm theo đơn là 1 vài bức hình chụp các vết nứt và hình chụp nhà mình cùng công trình xây dựng gây ảnh hưởng. Trường hợp này, con khuyến nghị gia đình mình nên nhờ Thừa phát lại xuống lập cho cái vi bằng ghi nhận lại các thiệt hại của gia đình mình do công trình nhà hàng xóm gây ra để làm cơ sở đệ trình các cơ quan nhà nước (UBND phường, Thanh tra Quận hoặc Tòa án) giải quyết. Vi bằng được lập có quay phim, chụp hình và đăng ký tại Sở Tư pháp trong thời hạn 3 ngày làm việc nên có giá trị chứng cứ chứng minh và bảo vệ quyền lợi gia đình mình.
>> Việc nắm được nội dung của vụ việc trước giúp chúng ta dễ dàng chia sẻ trường hợp pháp lý mà người dân đang gặp phải, tư vấn, hỗ trợ thêm họ về mặt pháp luật. Từ đó, họ thấy ta như người bạn của họ, 1 người đang giúp đỡ gia đình họ. Việc tống đat trong vụ việc này từ đó cũng thuận lợi hơn.

9. Bữa trước có ghé, bữa sau còn ghé
- Dạ con chào cô chú, bữa trước con có ghé gia đình mình để gửi giấy của Tòa án về việc ông An bên Bình Thạnh kiện gia đình mình vụ vay tiền. Hôm mà cô, chú mới đi công tác ở Hà Nội về, cô, chú nhớ không ạ!
...
- Dạ, Tòa giải quyết còn mấy lần mời nữa nên con sẽ còn đến gửi giấy cho nhà mình thêm tối thiểu 3 lần nữa. Con báo vậy để cô chú biết ạ!
>> Việc ngay từ lời chào đầu tiên đã giới thiệu với đương sự chúng ta đã từng gặp nhau tạo đã giúp dỡ bỏ bức tường ngăn cách giữa thư ký với đương sự và giúp đương sự thân thiện với chúng ta hơn (cái này hình như là học từ bên dân Sale). Đã từng gặp mặt làm việc trước đây sẽ giúp đương sự có thái độ tích cực với chúng ta khi tiếp xúc, từ đó việc tống đạt cũng sẽ thuận lợi.
>>  "Bữa sau còn ghé" là để đương sự biết rằng họ sẽ phải nhận giấy của Tòa thêm mấy lần nữa giúp họ chủ động trong tâm lý khi tiếp xúc với chúng ta cũng như nhận giấy của Tòa án vào lần sau.

26/08/2015

Vi bằng khác gì với công chứng?

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Để dễ dàng phân biệt Vi bằng và băn bản công chứng, tránh nhầm lẫn giá trị của hai loại Văn bản có ý nghĩa rất quan trọng đến đời sống xã hội, Chuyên trang xin giới thiệu tóm tắt sự khác nhau của hai loại văn bản này để mọi người tham khảo:
So sánh nhanh về Vi bằng và Văn bản công chứng

25/08/2015

Giữ được tình xóm giềng nhờ Thừa phát lại

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Đầu tháng 8/ 2015, bà CTA đến Văn phòng Thừa phát lại Thủ Đức trình bày sự việc:
Bà CTA mới xây dựng 7 phòng trọ để cho thuê, nhưng chưa kịp cho thuê thì nhà hàng xóm là bà BTTL xây nhà, chủ thầu là ông PDH thực hiện công trình. Việc xây dựng làm cho 3/7 phòng trọ của bà bị nứt, vì vậy không thể cho ai thuê. Bà CTA cùng với bà BTTL, ông PDH đã nhiều lần thương lượng, đề nghị khắc phục, bồi thường tiền thuê trọ bị thiệt hại, đồng thời ký quỹ 100 triệu để đảm bảo việc sửa chữa nhà. Tuy nhiên, do hai bên thiếu lòng tin lẫn nhau, e ngại bên kia bội ước sẽ gây thiệt hại cho mình, vì vậy chưa thương lượng được.
Thừa Phát lại tư vấn cho bà CTA nên lập vi bằng ghi nhận hiện trạng căn nhà bị nứt, sau đó đề nghị UBND Phường, Thanh tra xây dựng giải quyết.



Ảnh: Thừa Phát Lại Thủ Đức lập vi bằng ghi nhận hiện trạng 7 căn nhà trọ, kế bên là công trình xây dựng của hàng xóm.

Ngay sau khi Thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hiện trạng, phía thi công là bà BTTL, ông PDH lập tức liên hệ Thừa Phát Lại nhờ hỗ trợ, để công trình được tiếp tục thi công. Vì vậy, Thừa Phát Lại tư vấn hai bên nên lập một biên bản thỏa thuận về việc bồi thường, đồng thời nhờ một bên Thứ 3 giữ tiền ký quỹ, cùng các điều kiện để rút tiền ra. Theo tư vấn của Thừa Phát lại, các bên đã lập xong thỏa thuận, và cùng mở một tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng để ký quỹ 100 triệu đồng.

Ảnh: Thừa Phát Lại lập vi bằng thỏa thuận giữa hai bên hàng xóm tại Văn phòng Thừa Phát Lại Quận Thủ Đức

Sau khi lập vi bằng tại Văn phòng Thừa Phát Lại Thủ Đức, phía bà CTA đã rút đơn tranh chấp, bên thi công tiếp tục thi công công trình, mâu thuẫn giữa hai nhà hàng xóm được giải quyết.
Đây là một trong nhiều tình huống, mà nhờ có Thừa Phát Lại, mâu thuẫn giữa hàng xóm với nhau được giải quyết ổn thỏa, đỡ phải nhờ đến chính quyền địa phương, Tòa án can thiệp, tiết kiệm thời gian, chi phí cho các Bên, mà mục đích của các bên vẫn đạt được, giữ được tình làng nghĩa xóm!
ThS. Nguyễn Tiến Pháp – Trưởng Văn phòng Thừa Phát Lại Thủ Đức cho biết thêm: Bên cạnh việc xây dựng nhà cửa, các tranh chấp khác có thể xảy ra giữa những người hàng xóm với nhau như: tranh chấp lối đi chung, gây tiếng ồn, gậy ô nhiểm môi trường, trổ cửa sổ… là những loại việc mà nếu sử dụng vi bằng của Thừa Phát lại có thể dàn xếp ổn thỏa các tranh chấp, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

Vi phạm nhãn hiệu 1 cách trắng trợn

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Không chỉ ăn cắp nhãn hiệu, bao bì, một công ty kinh doanh bánh kẹo ở TPHCM còn in cả logo ăn cắp của doanh nghiệp khác lên trên hóa đơn giá trị gia tăng và hóa đơn bán lẻ khi xuất hàng.
vi bang thua phat lai
Hình ảnh tại buổi lập vi bằng
Giấy đăng ký sở hữu trí tuệ sản phẩm “D’art Chocolate” của Công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co (ảnh phải) nhưng bên trong cửa hàng của công ty Elan nhiều sản phẩm trưng bày và bảng hiệu có in nhãn hiệu “D’art Chocolate” (ảnh trái))
Nạn nhân của câu chuyện ăn cắp trắng trợn trên là Công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co ở 23-25 Đường 22 KDC Bình Phú, phường 11, quận 6, TPHCM. Theo ông Lê Minh Quân - người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co, ngày 28/5/2011, công ty được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại TPHCM. 
“Ngày 20/3/2013 chúng tôi đã đăng ký nhãn hiệu số: 202256 cho sản phẩm D’art Chocolate do Cục Sở hữu trí tuệ cấp. Sản phẩm trên cũng được Cục này cấp lại ngày 23/4/2015 dùng cho các sản phẩm/dịch vụ sô cô la; dịch vụ mua bán sô cô la, nước giải khát, bánh kẹo; dịch vụ nhà hàng ăn uống, dịch vụ quán giải khát” - ông Quân khẳng định.
Tuy nhiên, sau một thời gian theo dõi, mới đây công ty ông Quân phát hiện bà Trần Thị Vỹ Trúc và ông Trần Tuấn Anh - Giám đốc công ty TNHH Elan ở đường Trần Hưng Đạo, P. Nguyễn Cư Trinh, quận 1 đã có hành vi xâm phạm nhãn hiệu độc quyền D’art Chocolate mà công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co đã được cấp từ năm 2013.
“Từ khi thành lập vào tháng 8/2014, Công ty TNHH Elan đã sử dụng mẫu nhãn hiệu D’art Chocolate in trên tất cả các bao bì sản phẩm, danh thiếp của nhân viên, trên bảng hiệu của trụ sở công ty Elan tại 166A Trần Hưng Đạo để kinh doanh thu lợi nhuận”- ông Quân cho hay. 
Sự việc vỡ lở khi ngày 9/6/2015 các thành viên của công ty phát hiện ở công ty TNHH Elan đang làm các mặt hàng D’art Chocolate như của công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co. Để ghi lại hoạt động trái phép này, ngày 9/6/2015 ông Quân yêu cầu Thừa Phát Lại quận 5 lập vi bằng tại hiện trường. 
Vi bằng được lập cho thấy, công ty Elan sử dụng nhãn hiệu của công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co và trên trang web công ty này còn nhái địa chỉ http://dartchocolate.com và http://facebook.com/d’artchocolatefref-ts. “Thậm chí, trên hóa đơn công ty này còn sử dụng nhãn hiệu đã được cấp bằng độc quyền của công ty chúng tôi để in trên hóa đơn Giá trị gia tăng, trên hóa đơn bán lẻ hàng hóa”- ông Quân ngao ngán. 
Trao đổi với Tiền Phong, Luật sư Trần Quang Thắng- Giám đốc Công ty Luật Quốc tế và Cộng sự thuộc (Đoàn Luật sư TPPHCM) cho biết: “Căn cứ vào Điều 213 Luật SHTT năm 2005 và TTLT số 01/2008/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008, hành vi của công ty Elan có dấu hiệu cấu thành tội “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” theo Điều 171 BLHS. Đại diện công ty Cổ phần Thương mại Elan & Co nói sẽ đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự ông Trần Tuấn Anh, bà Trần Thị Vỹ Trúc và xử phạt Công ty TNHH Elan theo quy định của pháp luật.
Khi được hỏi về việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác, bà Vũ Thị Mai A - Quản lý kinh doanh của Công ty TNHH Elan nói rằng không biết chuyện này, và không có trách nhiệm để trả lời vấn đề trên.
(Nguồn: Ngọc Lâm - Tiền Phong.vn. Tựa bài do người viết đặt lại)

11/08/2015

Vi bằng: Bổ khuyết công chứng, phục vụ nhân dân

- Không có nhận xét nào
Vi bằng Thừa Phát Lại và Văn bản công chứng của công chứng viên 

Khi đánh giá về ý nghĩa và giá trị của vi bằng, không thể không bàn đến sự phân biệt Vi bằng Thừa Phát Lại và Văn bản công chứng của công chứng viên, vì nếu không làm rõ sự khác nhau từ bản chất của vi bằng và văn bản công chứng sẽ dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, làm sai lệch giá trị của vi bằng; hoặc ở thái cực kia, là những điều chỉnh quá mức cần thiết, làm giảm giá trị, phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng, ảnh hưởng đến quyền lợi ích chính đáng của người dân trong việc tạo lập chứng cứ.
Thực tế thời gian qua có những trường hợp vi bằng bị nhẫm lẫn với văn bản công chứng, phổ biến trong lĩnh vực mua bán nhà đất. Tuy nhiên, Việc lập vi bằng của Thừa phát lại khác hoàn toàn với việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên. Công việc của công chứng viên là xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng giao dịch, văn bản công chứng có giá trị thi hành đối với các bên liên quan; còn công việc của Thừa phát lại là mô tả lại những gì Thừa phát lại chứng kiến, tức là xác nhận một sự việc có thật, và vi bằng của Thừa phát lại đảm bảo một nội dung duy nhất: tính khách quan của sự việc mà Thừa phát lại chứng kiến. 
So sánh nhanh Vi bằng và văn bản công chứng

Thực tế, trong một số ít trường hợp, khi Thừa phát lại khi lập vi bằng đã không giải thích kỹ càng với người dân vi bằng được lập chỉ là chứng cứ chứng minh các bên có giao nhận tiền, nhà đất… mà không thể thay thế văn bản bắt buộc phải công chứng, dẫn đến trường hợp người dân hiểu nhầm vi bằng của Thừa phát lại thay thế văn bản công chứng của công chứng viên, từ đó thực hiện các giao dịch không đảm bảo an toàn pháp lý, và có thể phải gánh chịu thiệt hại. Đây là nhầm lẫn rất đáng tiếc mà Thừa phát lại phải rút kinh nghiệm khi lập vi bằng cho người dân. Vì vậy, một số ý kiến cho rằng nên giới hạn phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng của Thừa phát lại để tránh nhầm lẫn, cũng như chồng chéo với thẩm quyền công chứng chứng thực.
Đánh gía về giá trị của vi bằng trong mối quan hệ với văn bản công chứng, Công chứng viên cũng có nhận định “Thoạt nhìn, hoạt động của Thừa phát lại có những nét giống với hoạt động của công chứng viên, nhất là hành vi công chứng và hành vi lập vi bằng. Tuy nhiên hoạt động của hai chức danh này không hề chồng chéo nhau… Mục đích của hoạt động công chứng và thừa phát lại đều nhằm hỗ trợ ngăn chặn cũng như giải quyết các tranh chấp, giúp tổ chức và cá nhân bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp một cách tốt nhất”[1]

Đồng thời, do phạm vi thẩm quyền khác nhau, Công chứng viên chỉ chứng nhận hợp đồng, giao dịch bằng văn bản, trong khi đó, Thừa Phát Lại có thẩm quyền lập vi bằng về mọi sự kiện, hành vi không bị pháp luật cấm, vì vậy, Vi bằng của Thừa Phát lại đã bổ khuyết, cùng với văn bản công chứng đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người dân. Ví dụ như: Trong lĩnh vực mua bán nhà đất, Công chứng viên chỉ chứng nhận hợp đồng, giao dịch, còn các công đoạn khác như: giao nhận cọc, giao nhận tiền, bàn giao nhà, ghi nhận hiện trạng nhà… thì công chứng viên không tham gia. Vi bằng của Thừa phát lại đã bổ khuyết vào chổ trống nói trên, góp phần tạo ra niềm tin, giúp các bên giao dịch an toàn, thuận lợi.
Ảnh: Thừa Phát Lại Thủ Đức lập vi bằng ghi nhận giao nhận tiền tại Văn phòng Công chứng Việt An, TP.HCM
 Như vậy, vấn đề hạn chế sự nhầm lẫn về giá trị của vi bằng và văn bản công chứng cần được giải quyết ở chổ cần tuyên truyền, cần có quy định về trách nhiệm giải thích pháp luật của Thừa phát lại để người dân hiểu được đâu là giá trị của vi bằng, đâu là giá trị của văn bản công chứng chứ không cần phải đặt ra một “giới hạn” cụ thể, bởi vì về bản chất, vi bằng không bao giờ có thể thay thế được văn bản công chứng. Nếu để cho người dân nhầm lẫn giá trị của vi bằng với văn bản công chứng thì đó chính là lỗi của Thừa phát lại.
Vì vậy, Chúng tôi đồng tình việc quy định thủ tục chặt chẽ quy trình lập vi bằng, quy định trách nhiệm giải thích giá trị vi bằng của Thừa Phát Lại, đồng thời nêu rõ ý nghĩa “không thay thế văn bản công chứng, chứng thực” trong vi bằng để người dân không nhầm lẫn. Tuy nhiên, Chúng tôi không đồng tình với việc hạn chế phạm vi, thẩm quyền lập vi bằng, chỉ vì e ngại người dân nhầm lẫn giá trị vi bằng. Bản chất vi bằng và văn bản công chứng hoàn toàn khác nhau, giải quyết vấn đề này phải từng bước tác động đến nhận thức, thói quen của xã hội, chứ không phải bằng biện pháp hạn chế giá trị của vi bằng.


[1] Xem tham luận của Phòng Công chứng số 1 Thành phố Hồ Chí Minh, “So sánh phạm vi lập văn bản công chứng với lập vi bằng - đánh giá, nhận xét về sự độc lập, giá trị của hai loại văn bản đối với các mối quan hệ pháp lý trong xã hội”, Tài liệu tọa đàm về Vi bằng, Sở Tư pháp TP.HCM ngày 24/7/2015, tr 26.

Nguồn: Thừa phát lại Nguyễn Tiến Pháp - http://www.vibangthuaphatlai.vn/

13/06/2015

Thế chấp sổ đỏ chung giờ tự mình bỏ tiền rút sổ ra thì làm sao?

- Không có nhận xét nào
(Thừa phát lại 24h)-Bà NTL và ông NHA trước đây là vợ chồng. Tuy nhiên, sau đó hai người đã ly hôn theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền. Về quan hệ tài sản: Cả hai có tạo lập được khối tài sản chung là nhà và đất tại phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Tp.HCM. Tài sản nêu trên đang được thế chấp tại Ngân hàng và hiện đang là đối tượng tranh chấp tại Tòa án giữa hai bên.
(Ảnh: Thừa Phát Lại Thủ Đức lập vi bằng ghi nhận cuộc họp tận nơi Khách hàng yêu cầu)
 Quá trình giải quyết, ông A và bà L đang thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp và rút đơn. Sau khi thảo luận, hai bên cơ bản thống nhất như sau:
- Bà L đồng ý bỏ khoản tiền là 240.000.000 (Hai trăm bốn mươi triệu) đồng để thực hiện việc giải chấp tài sản là nhà và đất nói trên. Đồng thời, Bà L đồng ý trả thêm cho Ông A số tiền là: 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng. Số tiền này được các bên xác nhận là phần giá trị của ½ (Một phần hai) tài sản là nhà, đất nói trên. Số tiền này chỉ được Bà L giao cho Ông A khi các bên hoàn tất thủ tục công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền.
- Sau khi Ông A bán, chuyển nhượng phần tài sản chung thuộc sở hữu của Ông A rút đơn tại Tòa đồng thời giao nốt số tiền còn lại. Ngoài ra, Ông A phải thu dọn dồ đạc và người ra khỏi địa chỉ nhà, đất nói trên.
Tuy nhiên, Bà L không yên tâm khi bỏ tiền để thực hiện thủ tục giải chấp và càng không yên tâm khi giao hết số tiền còn lại cho Ông A. Bà sợ Ông A sẽ bội ước sau khi nhận tiền. Ông A cũng e ngại sau khi ký chuyển nhượng, bà L sẽ không giao tiếp 500 triệu đồng cho mình. Vì vậy, cả hai đã đến Văn phòng Thừa Phát Lại Thủ Đức nhờ tư vấn.
Thừa phát lại đã tư vấn cho Bà L, lập vi bằng ghi nhận buổi làm việc và thỏa thuận giữa các bên làm chứng cứ, trước khi Bà L tiến hành thủ tục giải chấp, ký quỹ tại Ngân hàng, rút đơn kiện tại Tòa án và thực hiện việc chuyển nhượng phần sở hữu sang cho Bà L.
Vi bằng được lập thành 03 bản, kèm theo là hình ảnh, được đăng ký tại Sở Tư Pháp và có giá trị chứng cứ.
 Kết quả: Sau khi lập vi bằng làm chứng cứ, các bên đã thực hiện thủ tục ký kết hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại cơ quan công chứng có thẩm quyền. Sau khi hoàn tất các thủ tục nêu trên thì Bà L đã rút đơn và giao 500 triệu đồng cho Ông A theo thỏa thuận đã ký kết và được Thừa Phát Lại lập vi bằng.
 Ông Nguyễn Tiến Pháp, Trưởng Văn phòng Thừa Phát Lại Quận Thủ Đức cho biết:"Có rất nhiều vụ việc đang khởi kiện tại Tòa án, nhưng các bên muốn thỏa thuận ngoài tố tụng, sau đó rút đơn khởi kiện. Để làm cơ sở cho việc giải quyết, Thừa Phát Lại đã lập vi bằng, tạo niềm tin, và là cơ sở cho các bên thực hiện thỏa thuận, sau đó tự rút đơn kiện, giảm tải hoạt động của Tòa án".